ĐẠI HÔN PHONG HẬU: LÀ ĐẠI PHÚC KHÍ HAY LÀ HỌA SÁT THÂN?

0
571
Ảnh minh họa: Đại Nam Nam Phương Hoàng hậu Nguyễn Hữu Thị Lan trong triều phục Phượng bào, mũ Cửu phượng quan.

[ĐẠI HÔN PHONG HẬU: LÀ ĐẠI PHÚC KHÍ HAY LÀ HỌA SÁT THÂN?]

Trong lịch sử cung đình Đông Á, nếu không tính các bậc Thái hoàng Thái hậu hoặc Hoàng Thái hậu – thì ngôi vị Hoàng hậu chính là nữ nhân cao quý nhất thiên hạ. Nếu xét trong các vị Hoàng hậu, lại không có vị Hoàng hậu nào tôn quý bằng người được lập ngay trong lễ Đại hôn.

Theo đó, một Hoàng hậu sẽ được sách lập trong các trường hợp sau:

Thứ nhất: là chính thất của Hoàng Thái tử, Hoàng tử. Sau khi vị Hoàng Thái tử hoặc Hoàng tử này đăng cơ, chính thất của người này sẽ được sách lập làm Hoàng hậu. Điển hình là trường hợp Nguyễn triều Thừa Thiên Cao Hoàng hậu (承天高皇后) Tống Phước Thị Lan, là chính thất của Nguyễn vương Nguyễn Phúc Ánh thuở còn trung hưng nhà Nguyễn, phong Nguyên phi. Sau khi thống nhất quốc gia, Nguyễn vương lên ngôi đã sách lập bà làm Vương hậu rồi Hoàng hậu.

Thứ hai: Có một vị Hoàng hậu qua đời, dựa theo điển chế, triều đình sẽ tuyển chọn một người khác làm Hoàng hậu. Thông thường nhất, Kế Hoàng hậu sẽ được lựa chọn trong số các phi tần đang tại vị để tấn phong làm Hoàng hậu. Có thể kế đến trường hợp duy nhất của Việt Nam: Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng hậu (顯慈順天皇后) được lập làm Hoàng hậu của Trần Thái Tông sau khi Trần Thủ Độ giáng Lý Thiên Hinh (tức Lý Chiêu Hoàng) từ Hoàng hậu xuống làm Chiêu Thánh Công chúa (昭聖公主). Đây chính là sự vụ Lý Phế hậu tai tiếng khai mở nên nhà Trần mà đến nay chúng ta vẫn còn xót thương cho thân phận của Lý Chiêu Hoàng.

Và cuối cùng, cũng là vinh hiển nhất: Hoàng đế nối đế nghiệp khi còn nhỏ tuổi, chưa đến tuổi nạp thê thiếp, đến khi Hoàng đế đến tuổi trưởng thành, Từ cung và triều đình nghị bàn đức hạnh, chọn lựa nữ nhân để gả cho Hoàng đế. Theo đó, vị Hoàng hậu sẽ được tổ chức lễ long trọng nhất, sách phong Hoàng hậu trong sự đón chào của toàn thể triều đình, vì đây vừa là lễ đại hôn của Hoàng đế, vừa là đại điển sách lập Hoàng hậu, ý nghĩa và nghi thức cũng long trọng hơn các trường hợp phong Hậu còn lại.

Trừ triều Lý trở về trước lễ giáo chưa hoàn thiện, ngôi vị Hoàng hậu lại lập cùng lúc nhiều người, làm mất đi ý nghĩa trọng đại vốn có của ngôi Trung cung nên không nhắc đến – thì trong lịch sử Việt Nam có tổng cộng 5 vị Hoàng hậu được lập trong ngày Đại hôn: Trần triều Chiêu Thánh Hoàng hậu (昭聖皇后), Trần triều Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng hậu (憲慈宣聖皇后), Lê triều Uy Mục Trần Hoàng hậu (威穆陳皇后), Lê triều Khâm Đức Hoàng hậu (欽德皇后) Nguyễn triều Nam Phương Hoàng hậu (南芳皇后).

Phong Hậu ngay ngày đại hôn là đại hỉ phúc không phải Hoàng hậu nào cũng có, nhưng dường như chính điều đó đã hút hết hậu vận của các vị Hoàng hậu kể trên. Cả 5 vị Hoàng hậu đều có số phận vô cùng truân chuyên.

Lý triều Chiêu Hoàng đế – Trần triều Chiêu Thánh Hoàng hậu hay được biết đến rộng rãi hơn với tôn hiệu Lý Chiêu Hoàng là một trong những nữ nhân có số phận bi thảm thuộc loại bậc nhất trong lịch sử Việt Nam. Bà thân là Lý triều Công chúa, là con gái của Hoàng đế Lý Huệ Tông và Thuận Trinh Hoàng hậu – Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung. Năm Kiến Gia thứ 14 (1224), Lý Huệ Tông không có con trai nên lập bà làm Hoàng Thái nữ (皇太女) rồi sau đó truyền ngôi, đổi niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo (天彰有道), với tôn hiệu là Chiêu Hoàng (昭皇). Sau đó, qua cuộc hôn nhân chính trị nổi tiếng và cũng đầy tai tiếng trong lịch sử Việt Nam nhằm thiết lập nên nhà Trần, bà được gả cho Trần Cảnh (tức Trần Thái Tông) và chính thức trở thành Hoàng hậu đầu tiên của nhà Trần, là vị Hoàng hậu đầu tiên trong lịch sử được chính thức lập trong lễ Đại hôn. Dù lễ Đại hôn này có khá nhiều điều tréo ngoe – đưa một vị Hoàng đế xuống ngôi vị Hoàng hậu âu cũng là điều cực kì hiếm thấy trong lịch sử Á Đông… Về số phận bi đát, lắm đau thương của bà, mời bạn đọc bài tại đây: goo.gl/ntcVLh

Trần triều Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng hậu (憲慈宣聖皇后), là một trong những vị hiền hậu nổi danh nhất trong lịch sử Việt Nam, được người đương thời xưng tụng là “Nữ trung Nghiêu Thuấn” (女中尧舜), con gái của Huệ Vũ vương Quốc Chẩn. Trước khi được gả cho Hoàng đế Trần Minh Tông, bà được phong làm Huy Thánh Công chúa (徽聖公主), từng là vợ của Uy Túc công Trần Văn Bích nhưng cuộc hôn nhân đã chấm dứt ít lâu sau đó. Năm Đại Khánh thứ 10 (1323), Minh Tông Hoàng đế tròn 23 tuổi, dùng lễ Đại hôn rước bà vào cung, lập làm Hoàng hậu, tôn hiệu Lệ Thánh Hoàng hậu (麗聖皇后). Để biết câu chuyện và kết cục đau thương của một bậc nữ trung hào kiệt, bạn có thể đọc bài tại đây: https://goo.gl/k7reHq.

Lê triều Uy Mục Trần Hoàng hậu (威穆陳皇后), là vị Hoàng hậu tại vị đầu tiên của triều Lê sơ. Theo thể chế hậu cung được lập ra trước đó của nhà Lê sơ vốn để trống ngôi vị chính cung, thì bà chính là vị Hoàng hậu đầu tiên được sách phong của nhà Lê sơ (xem thêm về chế độ nội cung Lê triều tại đây: https://goo.gl/vM479M). Uy Mục đế lên ngôi năm 1504 thì đến năm Đoan Khánh thứ 2 (1506), bà được dùng lễ Đại hôn gả cho Hoàng đế và liền sau đó sách lập làm Hoàng hậu. Những năm bà làm Hoàng hậu đánh dấu sự nổi lên của thế lực ngoại thích ở vùng Nhân Mục quê bà. Sau khi Uy Mục đế bị lật đổ, bà chạy trốn về nhân gian và thắt cổ tự tử ở một ngôi chùa nhỏ tại khu vực xã Hồng Mai (Bạch Mai, Hà Nội ngày nay).

Lê triều Khâm Đức Hoàng hậu (欽德皇后), là Hoàng hậu tại vị thứ hai và cuối cùng của triều Lê sơ, là chính thất của Lê Tương Dực. Lễ đại hôn và sách lập Hoàng hậu của bà diễn ra vào năm Hồng Thuận thứ 2 (1510). Năm Hồng Thuận thứ 8 (1516), Tương Dực đế bị nghịch thần Trịnh Duy Sản dấy binh làm loạn và giết chết, Hoàng hậu chạy đến điện Mục Thanh đang cháy và nhảy vào đống lửa tự thiêu theo phu quân. Chiêu Tông lên nối ngôi, truy phong bà làm Khâm Đức Thuận Liệt Đôn Tiết hoàng hậu (欽德順烈敦節皇后).

Nguyễn triều Nam Phương Hoàng hậu (南芳皇后), Nguyễn Hữu Thị Lan, là vị Hoàng hậu cuối cùng của triều Nguyễn cũng như của chế độ quân chủ Việt Nam cũng là vị Hoàng hậu duy nhất theo Công giáo La Mã trong lịch sử Việt Nam. Cuộc đời gian nan những năm cuối đời cùng cái chết trong cô độc của bà không khó để chúng ta khảo cứu.
_____________________

Nhìn vào các nước đồng văn, cụ thể hơn là trong lịch sử Đại Thanh, Hoàng hậu phong ngày Đại hôn sẽ dùng ngự liễn đi qua Đại Thanh môn, tuy nhiên vì tính chất lịch sử mà chí có 4 người từng nhận đại lễ này: Phế hậu Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị, Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu, Hiếu Triết Nghị Hoàng hậu và Hiếu Định Cảnh Hoàng hậu.

Phế hậu Tĩnh phi (废后静妃), Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị, con gái của Trác Lễ Khắc Đồ Thân vương Ngô Khắc Thiện, cháu gái của Hiếu Trang Văn Hoàng hậu, nguyên phối của Thanh Thế Tổ Thuận Trị đế. Lập năm Thuận Trị thứ 8, phế năm thứ 10, bị giáng xuống làm Tĩnh phi.

Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu (孝誠仁皇后), Hách Xá Lý thị, con gái Thị vệ Nội đại thần Cát Bố Lạt, cháu nội của Sách Ni, nguyên phối của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế. Lập năm Khang Hi thứ 4, mất năm thứ 13, sinh duy nhất Phế Thái tử Dận Nhưng.

Hiếu Triết Nghị Hoàng hậu (孝哲毅皇后), A Lỗ Đặc thị, con gái của Hàn Lâm viện Thị giảng Sùng Khởi, cháu gái Từ An Hoàng Thái hậu, nguyên phối của Thanh Mục Tông Đồng Trị đế. Lập năm Đồng Trị thứ 11, năm Quang Tự nguyên niên tôn làm Gia Thuận Hoàng hậu, cùng năm thì băng thệ, vô tự.

Hiếu Định Cảnh hoàng hậu (孝定景皇后), Diệp Hách Na Lạp thị, con gái Phó đô thống Quế Tường, cháu gái của Từ Hi Hoàng thái hậu, nguyên phối của Thanh Đức Tông Quang Tự Đế. Lập năm Quang Tự thứ 15, năm Tuyên Thống nguyên niên tôn làm Long Dụ Hoàng thái hậu. Mất năm Dân quốc thứ 2. Vô tự.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here